Nội dung chính
Thực trạng cơ giới hoá tại HTX Hưng Lợi
HTX Nông nghiệp Hưng Lợi (603 ha) đang áp dụng mô hình thuê mướn máy móc để đáp ứng yêu cầu Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao.

Tại HTX, chỉ có một máy thu gom rơm tự hành được tài trợ 100% bởi Đức, trong khi các máy xới, máy gặt đập liên hợp và drone chủ yếu được thuê hoặc do nông dân tự mua. Dịch vụ thuê mướn giúp giảm đáng kể sức lao động thủ công, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ tiêu chuẩn phát thải thấp vì thiếu máy cuộn rơm và máy lấy rơm tự hành cho mùa nước nổi.
Giá trung bình của một máy thu gom rơm tự hành lên tới 350 triệu đồng, vượt quá khả năng tài chính của HTX, dẫn đến đề nghị của Ban giám đốc HTX về việc Nhà nước hỗ trợ vốn đầu tư và các gói tín dụng ưu đãi.
Công nghệ then chốt để đạt mục tiêu phát thải thấp
Khoa học công nghệ đóng vai trò trung tâm trong quá trình cơ giới hoá. Việc ưu tiên sử dụng máy sạ cụm và sạ hàng thay cho sạ lan giúp giảm lượng giống, hạn chế sâu bệnh và giảm thuốc bảo vệ thực vật. Kết hợp sạ hàng với bón phân vùi còn giảm thất thoát dinh dưỡng và phát thải.

Công nghệ san phẳng mặt ruộng bằng tia laser hỗ trợ quản lý nước chính xác, trong khi chuỗi thu gom rơm rạ cần tích hợp máy cuộn, máy băm và chế phẩm sinh học, loại bỏ việc đốt rơm hay vùi rơm trong ruộng ngập nước.
Theo bà Nguyễn Thị Giang, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.Cần Thơ, để máy móc phát huy hiệu quả cần dồn điền đổi thửa, hình thành cánh đồng lớn, đồng thời nâng cấp giao thông nội đồng đủ tải trọng và hoàn thiện hệ thống thủy lợi với trạm bơm cảm biến mực nước để tưới AWD chính xác.
Giải pháp tài chính và tổ chức
HTX kiểu mới là mô hình trung tâm sở hữu máy móc và cung cấp dịch vụ cơ giới hoá cho nông dân, tối ưu công suất và giảm gánh nặng đầu tư cá nhân. Để mô hình này phát triển, cần triển khai các gói tín dụng ưu đãi cho HTX và doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính.

Liên kết chặt chẽ giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp bao tiêu giúp gắn sản phẩm xanh với giá bán, tín chỉ carbon và thị trường tiêu thụ ổn định. Đào tạo đội ngũ nông dân công nghệ, nâng cao khả năng vận hành drone, máy tự hành và sử dụng hệ thống MRV (đo lường, báo cáo, thẩm định) sẽ tạo “hộ chiếu xanh” cho mỗi hạt gạo.
Kết luận và khuyến nghị
Mặc dù ĐBSCL có lợi thế về hỗ trợ chính phủ, ngân hàng thế giới và trình độ canh tác, cơ giới hoá vẫn gặp rào cản về vốn, hạ tầng, nhân lực và thói quen sản xuất. Nếu không có giải pháp đồng bộ – tài chính, công nghệ, hạ tầng và tổ chức – mục tiêu giảm phát thải và nâng cao giá trị hạt gạo sẽ khó đạt được.
Chúng ta cần một chiến lược tích hợp: đầu tư vào máy móc hiện đại, mở rộng tín dụng ưu đãi, nâng cấp giao thông nội đồng, hoàn thiện hệ thống thủy lợi và đào tạo nguồn nhân lực công nghệ. Khi các yếu tố này được gắn kết, ĐBSCL sẽ có thể dẫn đầu trong sản xuất lúa phát thải thấp và cung cấp gạo xanh cho thị trường quốc tế.
Văn Kim Khanh